Добавил:
Опубликованный материал нарушает ваши авторские права? Сообщите нам.
Вуз: Предмет: Файл:

новая папка / Benh Hoc Co Xuong Khop Noi Khoa ыыыы

.pdf
Скачиваний:
20
Добавлен:
09.07.2022
Размер:
5.56 Mб
Скачать

độ vừa phải. Duy trì cho đến khi hết các triệu chứng viêm tại khớp. Thường dừng khoảng 2 tuần. Sau đó dùng liều 60 mg/kg trong khoảng 6 tuần tiếp theo.

+ Các thuốc chông viêm không steroid

Các thuốc nhóm này cũng cho hiệu quâ tốt.

+ Corticoid

Không có bàng chứng rằng corticoid tốt hơn aspừin trong việc hạn chê các - tổn thương tim sau này. Thuốc được chì định trong trường hợp có tổn thương tim hoặc không đáp ửng với aspừin.

Liểu: 1-2 mg/kg/24h. chia 3-4 lần cho đến khi tốc độ lắng màu bình thường. Sau khoảng 2- 4 tuần, rồi giảm liều dần trong vòng 8-10 tuần. Khi đạt tới liêu 30 mg/ngày, mỗi khi giảm một viên prednisolon. thay bằng một viên aspirin đê tránh tái phát.

+ Thuỏc kháng sinh

Mọi trường hợp đều được chỉ định khảng sinh trong 10 ngày

Penicillin: Penicillin G tiêm bắp 1—2 triệu đơn ri mỗi ngày, trong 10 ngày. Penicillin uống 2 gam/ngày. trong 10 ngày.

Erythromycin: chì định trong trường hợp dị ứng Penicillin Liều 40-00 mg/kg/24h.

2. Điều trị dự phòng thấp khớp cấp

-Đê phòng nhiễm liên cầu khuẩn.

Cai thiện chẽ độ ãn ờ. vệ sinh, tàng cường giữ ấm. giải quyết triệt để các e nhiễm khuẩn tai mũi họng, ràng miệng.

-Dự phòng tái phát

Tiêm khàng sinh dự phòng là biện pháp phòng thấp hiệu quả. Thòi gian dự phòng kháng sinh kéo dài nàm năm kè từ đợt viêm khớp cuôĩ cùng nếu không có biểu hiện tim và trong nảm năm đó không có đợt thấp khớp tái phát. Trường hợp có biểu hiện tim. tiêm đến khi trê tuổi.

-Benzathin Penicillin tiêm báp 600.000 đơn vị với trê em và 1.200.000 đơn ri với người lớn hoặc trê trên 30 kg thê trọng mỗi 4 tuần. Trường hợp có phơi nhiễm với liên cầu mọi trường hợp có tôn thương tim thì khoảng cách giũa các mũi tiêm là 3 tuần

-Penicillin V <dạng uống': chỉ đinh nếu không có điều kiện tiêm, liều 1 triệu đơn vị niỗi ngày, trong thời gian như trên.

-Erythomycin: ÕOO mg chia hai lần mỗi ngày nếu dị ứng với Penicillin.

3.Khái niêm về phòng thấp cấp 1

Dựa trẽn nguyên tãc "ngừa được viêm họng là ngừa được thấp tim", phóng thấp cấp một là đề phòng ngay từ lúc trẻ mới bị viêm hong chưa bị thấp tim.

263

Hiện nay đang được đê' nghị triển khai tại Việt Nam. Phác đồ do WHO đé nghị năm 1988.

Phác đồ phòng thấp cấp 1 do WHO để nghị năm 1988

Kháng sinh

Liều dùng

Cách dùng vá thài gian

Benzathin Penicillin

600.000 đơn vị với trẻ dưới 30 kg và

Tiêm bắp liéu duy nhất mỗi 3

 

 

tuần

 

1.200.000 với trẻ trên 30 kg thể trọng.

 

 

Penicillin V

250 mg X hai lần với trẻ dưới 30 kg và 500 mg X

Uống liến trong 10 ngày

 

hai lần với trẻ trên 30 kg thể trọng.

 

 

 

 

Erythomycin

40 mg/ kg/24h, chia hai lần

Uống liến trong 10 ngày

VI. TIÊN TRIỂN VÀ TIÊN LƯỢNG

Với cách sử dụng kháng sinh và corticoid cùng các chiến dịch phòng chống thấp, theo kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học - Hội Tim Mạch học 4/2000, tỷ lệ tử vong ỏ Việt Nam vẫn là 1,2% vối thấp khớp cấp và 7,2% với các di chứng van tim do thấp. Việc tách mổ, thay van tim và chi phí cho điều trị suy tim tốn kém. Do đó công tác phòng ngừa vô cùng quan trọng với một nưốc đang phát triển và khí hậu ẩm thấp như Việt Nam.

264

CÁC BIỂU HIỆN Cơ XƯƠNG KHỚP

ở BỆNH NHÂN BỊ NHIÊM HIV

I. ĐẠI CƯƠNG

Cùng vối đại dịch AIDS phát triển trên thê giới, tỷ lệ ngày càng tăng của bệnh AIDS, Việt Nam chúng ta cũng không là ngoại lệ. Ngoài các biểu hiện chung mà nhiều người đã quen thuộc như gầy sút, nhiễm trùng ngoài da, thì các biểu hiện xương khớp cũng khá thường gặp. Các biểu hiện cơ xương khởp kết hợp ở những bệnh nhân bị nhiễm HIV đặt ra nhiêu khó khăn trong chẩn đoán phân biệt nguyên nhân: là triệu chứng của nhiễm virus HIV hay là bệnh riêng biệt hoặc là các tác dụng không mong muốn của các thuốc chõng virus.

Các biểu hiện cơ xương khớp thường xuất hiện ở nhóm bệnh nhân nhiễm HIV khá đa dạng. Tổn thương khớp bao gồm: đau khớp (45%), hội chứng Reiter, viêm khớp vẩy nến, bệnh lý cột sống không xác định, viêm khớp kết hợp ở bệnh nhân nhiễm HIV, hội chứng đau khớp. Tổn thương cơ thường gặp là đau cơ, viêm đa cơ, bệnh lý về cơ do thuốc điều trị (ví dụ như azidothymidin). Ngoài ra, còn gặp hội chứng thâm nhiễm bạch cầu lympho lan tỏa (5%), viêm mạch, nhiễm khuẩn cơ, xương, khớp; hoại tử xương, viêm gân, viêm túi thanh mạc, gút... O các bệnh nhân này, các biểu hiện trên có khi chỉ là triệu chứng đơn độc (đau cơ, đau xương, đau khớp...), có lúc tập hợp thành hội chứng (tôn thương các tuyến nước bọt, tuyến lệ...), song có khi đó là một bệnh khớp điển hình (viêm khởp nhiễm khuẩn, viêm khớp phản ứng, viêm khởp vay nến) và các bệnh tự miễn dịch khác (lupus ban đỏ hệ thông). Trong số các biểu hiện trên, có những biểu hiện bệnh lý gặp cả người không nhiễm virus, song có những triệu chứng chỉ gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV, đó là viêm khớp kết hợp bệnh nhân nhiễm HIV và hội chứng thâm nhiễm bạch cầu lympho lan tỏa. Một số nghiên cứu tại Mỹ năm 2006 cho thấy các biểu hiện cơ xương khớp ở các bệnh nhân nhiễm HIV khá cao, mặc dù đang được điều trị: 41% có nhiễm khuẩn các loại (bao gồm viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm mô tê bào, cốt tủy viêm, viêm đĩa đệm đốt sông và viêm đa cơ). Đau xơ cơ (fibromyalgia) chiếm 17%. Ngoài ra có viêm khớp các loại (viêm nhiêu khớp, vài khớp), thấp khớp vẩy nến, hội chứng đường hầm, viêm gân, u lymphoma non-Hodgkin gây tôn thương xương đa ô, sarcoma Kaposis tại xương; hoại tử vô mạch đa xương...

Đặc điểm chung của những triệu chứng xương khởp ở những bệnh nhân bị nhiễm HIV như sau: đa số các bệnh nhân thường phàn nàn là đau cạnh khớp, hơn là sưng đau khởp. Họ khó xác định chính xác điểm đau tại xương, cơ hay khớp, nhất là ở giai đoạn đầu. Đôi khi, phải chờ đến khi các triệu chứng trở nên rõ ràng mới chán đoán được.

265

Có khi ở bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng giống như nhiễm bung uuạc ung thư (sốt, gầy sút...). Với các triệu chứng này rất khó phân biệt được nguyên nhân là do suy giảm miễn dịch của HIV hay nhiễm trùng kết hợp hoặc ung thư mới xuất hiện.

Nhóm người này thường có tỷ lệ tự kháng thể cao, do nhiễm trùng mạn tính, do rối loạn điều hoà miễn dịch và do các thuốc sử dụng (đặc biệt là AZTazidothymidin). Chính vì vậy, các trường hợp được tìm thấy kháng thê kháng nhân cũng không chắc đó là bệnh lupus ban đỏ hệ thống. Chẩn đoán cuối cùng phải do bác sĩ chuyên khoa quyết định.

Phần dưởi đây trình bày một số biểu hiện cơ xương khởp thường gặp nhất ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS.

II.Cơ CHẾ BỆNH SINH

Vai trò trực tiếp của virus đôi với các biểu hiện cơ xương khớp.

Trong số các biểu hiện cơ xương khớp đa dạng, có những biểu hiện bệnh lý gặp cả ỏ người không nhiễm virus (hội chứng Reiter, viêm đa cơ...), song có những triệu chứng chỉ gặp bệnh nhân nhiễm HIV (viêm khớp kết hợp ở bệnh nhân nhiễm HIV và hội chứng thâm nhiễm bạch cầu lympho lan tỏa). Vai trò trực tiếp của virus đối với các biểu hiện cơ xương khớp không được chứng minh rõ ràng tuy có một sô các biếu hiện liên quan đến suy giảm miễn dịch (viêm đa cơ, viêm mạch, viêm khớp kết hợp ở bệnh nhân nhiễm HIV và hội chứng thâm nhiễm bạch cầu lympho lan tỏa). Việc điều trị các thuốc kháng vứus kết hợp, ức chê các enzym tiêu protein như proteases... làm giảm tỷ lệ các bệnh cơ xương khớp ở bệnh nhân nhiễm HIV, gợi ý cơ chế gây tổn thương xương khốp do chính bản thân virus. Hơn nữa, cơ chê gây các triệu chứng hoặc bệnh lý cơ xương khớp là tê bào T CD4 độc lập và tê bào CD 8 có thể đóng vai trò quan trọng hơn nữa trong cơ chế bệnh sinh. Hội chứng Reiter lúc đầu được cho là vứus HIV gây nên, song hiện nay chỉ là bệnh lý lây theo đường tình dục mà những người nhiễm HIV là đối tượng nguy cơ cao. Nồng độ cao ARN truyền tin (mARN) có mối liên quan trực tiếp tởi bệnh lý cơ hội và tử vong. Nồng đồ cao này cũng liên quan tới tình trạng giảm số lượng tẽ bào T CD 4. Nồng độ cao mARN hút ra được từ các nang ở tuyên mang tai gợi ý rằng chính những tẽ bào bị nhiễm vừus HIV gây nẽn các triệu chứng bệnh lý, đặc biệt là hội chứng thâm nhiễm bạch cầu lympho lan tỏa.

Vai trò trực tiếp của các tự kháng thể đối với các biểu hiện cơ xương khớp

Bất thường vê' xét nghiệm thường gặp nhất ở bệnh nhân nhiễm HIV là bệnh lý tăng đa dòng gammaglobulin, gặp ở trên 45% số bệnh nhân. Yếu tố dạng thấp với tỷ giá thấp và kháng thể kháng nhân gặp ở 20 % bệnh nhân. Sự có mặt của kháng thể anticardiolipin IgG gặp ở trên 90% bệnh nhân nhiễm HIV tiến triển thành AIDS, tuy nhiên, chúng hiếm khi có triệu chứng lâm sàng ngay, chúng

266

không kết hợp vdi kháng thể kháng anti 02 glycoprotein I. cà hai loại cANCA pANCA đã được phát hiện ờ bệnh nhân nhiễm HIV. mặc dù không có các triệu chứng viêm mạch điển hình. Tóm lại bệnh nhàn thường bị chẩn đoán nham do các kháng thể rất thường gặp. song không có móì hên quan về mặt lãm sàng với sự khơi phát các triệu chúng viêm khớp đặc hiệu.

HI. CÁC BIỂU HIỆN cơ XƯƠNG KHỚP THƯỜNG GẶP

1. Bệnh lý về cơ

Đây là một trong các bệnh cơ xương khớp thường gặp nhất ờ bệnh nhãn nhiễm HIV. Tiêu cơ vân có thể là một trcng các biến chứng đầu tiên ỡ bệnh nhân nhiễm HIV. Có ba nhóm nguyên nhân gày các tổn thương cơ ờ các đôì tượng nhiễm HIV: nhóm viêm cơ tự miễn, hiện tượng tiêu cơ vân do dùng thuốc và viêm cơ do bội nhiễm vi khuẩn sinh mù (tụ cầu vàng và các vi khuẩn sinh mũ khác).

1.1. Mém đa cơ kết hợp với nhiễm HIV

Viêm đa cơ tự miền gặp ờ khoảng 2% đến ĩ°0 người nhiễm HTV. về mặt lãm sàng, cận lâm sàng, triệu chứng biểu hiện tương tự như viêm đa cơ ờ người không nhiễm HIV song tiên lượng tốt hơn và đáp ưng với diêu trị miễn dịch tốt hơn.

-Triệu chứng lãm sàng viêm đa cơ tự miễn

Đau cơ: có khoảng 10 35% sô bệnh nhân có đau cơ. Bệnh nhân khác ít khi kêu đau cơ thực sự mà đa số thường phàn nàn về câm giác “nhức nhôi". Đau tại các cơ tốn thương, có thể khu trú hoặc lan toả.

Yếu cơ: đặc biệt yếu cơ xảy ra đôì vói các cơ ỏ góc chi: các cơ ỏ vai. cánh tay. chậu, đùi thường tôn thương nhất. Bệnh nhân thường thấy mỏi cơ khi lẽn xuống cầu thang, khi đi lại. đứng dậy khi đang ngồi, khi chải tóc. khi thực hiện các động tác cần nâng vai. Tương tự các bệnh lý cơ khác, bệnh nhãn khó đứng lẽn ngồi xuống. Khi ngồi xuống, muốn đứng dậy. bệnh nhân cần phái vạn vào ghẽ mới đứng dậy được (dấu hiệu ghẽ đẩu). Thậm chí yếu cơ nặng đến mức độ bệnh nhàn đi đứng không vũng, có thê bị ngã. Thầy thuỗc. điểu dưỡng viên, bán than bệnh nhân và người nhà cần phải biết điêu này đé tránh các chấn thương có thẻ xảy ra.

Teo cơ: khoang 6°0 số bệnh nhàn có teo các cơ tòn thương.

-Triệu chứng cận làm sàng viêm đa cơ tự miến

Tăng các enzym cơ: các enzym có nguồn gòc cơ thường tâng như creatm kinase (CK). transaminase (AST—GOT: ALT—GPT). đôi khi có răng cà lacúc dehvdrogenase .LDH'

Điện cơ: xuất hiện các ròi loạn điện cơ có nguồn gốc tổn thương cơ.

Sinh thiết cơ: có hiện tượng thâm nhiễm tẽ bào CDS và khang nguvẽn virus. Gần nừa sô người bệnh có hội chứng xâm nhiễm bạch cầu Ivmpho.

267

1.2. Bệnh lý cơ vân do thuốc Zidovudin (Zidovudine myopathy)

Tiêu cơ vân có thể là một trong các biến chứng đầu tiên ở bệnh nhân nhiễm HIV hoặc là biến chứng do bệnh nhân sử dụng các thuốc kháng virus hoạt tính cao (highly active antiretroviral therapy (HAART). Đặc trưng bởi sự yếu cơ, CK có thể bình thường hoặc tăng. Sinh thiết mẫu cơ cho thấy có bất thường vê' ty lạp thể. Hiện tượng này có hồi phục khi ngừng thuốc.

1.3. Điều trị các tổn thương cơ

Việc điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng đau cơ và yếu cơ. Trưốc hết, bệnh nhân phải bỏ rượu và các thuốc không rõ tính chất dược liệu đang dùng (ví dụ các thuốc nhập lậu không rõ nguồn gốc, các loại thuốc cây cỏ, thuốc “nâng cao thể trạng”, các loại megavitamin...) nhằm giảm các yếu tố gây hủy tế bào cơ.

Điều trị triệu chứng: các thuốc giảm đau bậc 2 (có kết hợp paracetamol) hoặc thuốc chông viêm không steroid: các thuốc này thường đủ đế cải thiện và khống chê triệu chứng đau cơ.

Thuốc chông virus: bệnh nhân cần được tiếp tục điều trị bằng các thuốc đã được chứng minh hiệu quả (ví dụ AZT—azidothymidin). Tuy nhiên, cần lưu ý, ở một sô các bệnh nhân đang điều trị bằng AZT mà có các triệu chứng vê cơ, ngừng AZT có thể cải thiện 50% cốc trường hợp.

Kháng sinh: được chỉ định đối với trường hợp có nhiễm trùng, dù nhỏ. Do đây là loại bệnh có suy giảm miễn dịch, nếu không điều trị kịp thời, vi khuẩn sẽ lan toả vối tốc độ nhanh chóng và gây tổn thương nhiều cơ quan trong thời gian ngắn. Như vậy, trường hợp có tôn thương cơ mà có các bằng chứng nhiễm khuẩn kèm theo, cần chỉ định kháng sinh kết hợp.

Lý liệu pháp và phục hồi chức năng: nên tiến hành sởm, nhằm tránh co thắt cơ. Cốc biện pháp phục hồi chức năng cần thực hiện sớm, duy trì đều đặn, có hiệu quả tôt trong việc phục hồi chức nàng cơ, tránh teo cơ.

Globulin miễn dịch tĩnh mạch và steroids: được chỉ định khi các biện pháp trên thất bại. Vối liều steroids liệu thấp (30 mg/ngày) các triệu chứng đau cơ, hủy cơ thường thuyên giảm nhanh chóng. Corticoid cần được chỉ định ngán ngày, giảm liều dần trong vòng 10 ngày. Đặc biệt, tương tự như những bệnh tự miền, truyền globulin miền dịch tĩnh mạch đạt kết quả rất tốt.

2. Các tổn thương khớp

2.1. Các tổn thương khớp triệu chứng

Các tốn thương khốp ở các bệnh nhân nhiễm HIV có một số đặc điểm riêng và điêu trị có thê khác biệt với điều trị chung. Do vậy phần trình bàv sẽ nêu các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, nguyên nhân (nếu có) và đặc điểm điêu trị các triệu chứng này.

268

Hội chứng đau khớp

Hội chứng này chì gặp duv nhất những bệnh nhân bị nhiễm HIV và là một trong những biểu hiện cơ xương khớp thường gặp nhất. Nguyên nhân có thê do thiêu máu cục bộ. Tuv nhiên, do triệu chứng nghèo nàn. nên củng là hội chứng khó phát hiện nhất. Hội chứng gồm hai thê lâm sàng là thẻ cấp tinh và bán cap.

Hội chứng đau khớp thể cấp tính

Triệu chứng: đau khớp cấp tính mức độ rất trầm trọng, xuất hiện hết sức nhanh chong. VỊ trí tổn thương thường tại khớp gôi và cô chân, đòi xúng hai bẽn. Khám không thấy gì đặc biệt, trừ việc bệnh nhân không đứng được, trong khi vận động chú động khởp hoàn toàn binh thường.

Điều trị: rất may là các biểu hiện đau đớn rầm rộ kè trên thường đáp ứng với thuốc trong vòng 2-24 giờ hoặc vài ngày. Chi cần chỉ đinh thuõc giảm đau có paracetamol thông thường. Thuốc chông viêm không steroid ít hiệu quả. Các đau khớp này thường khỏi hoàn toàn. ít khi đê lại di chửng.

Hội chứng đau khớp thê bán cấp

Triệu chứng: diễn biên trong khoảng vài tuần. VỊ trí tổn thương cũng tại khớp gối và cổ chân như thê cấp tình, đôì xứng hai bên. Trên thực tê. đây là các triệu chứng viêm các điểm bám tận. Bệnh nhân đau ờ các điểm bám tận của gân cạnh khớp gối và cổ chân, ấn vào các vị trí trên bệnh nhân thấy rất đau. Bệnh nhân có cảm giác càng ờ cơ.

Điều trị: thuốc chông viêm không steroid thường có hiệu quà trong các trương hợp này. Nêu thất bại. chì định steroids liều thấp (20 mg/ngày). Sreroĩd thường có hiệu quà nhanh chóng và có thê giảm liều trong vòng một tuần. Đa sô các trường hợp có hội chửng đau khớp thê bán cấp này khỏi hoàn toàn trong vòng vài tuần hoặc vài tháng. Một vài các trường hợp tiên tnen tăng dần và dẫn đến mất khả nâng vặn động đáng kể.

2.2. Các bệnh khớp kết hợp ở những bệnh nhản bị nhiễm HIV

Khác với các triệu chứng tỗn thương nói trên, một sô bệnh khớp thường gặp kêt hợp ờ nhũng bệnh nhân bị nhiễm HIV. có thé liên quan tới cơ chẽ miền dịch như Viêm khớp không đặc hiệu, nêm khớp phàn ùng...

- Viêm khớp không đặc hiệu

Có khoáng trẽn 1% sô bệnh nhãn có triệu chứng này. Thường biêu hiện bói hiện tượng viêm vài khớp không rõ nguyên nhân.

Nguyên nhàn: một sô tác già cho răng the do hiện tượng xâm nhiễm các tẽ bào tại màng hoạt dịch và the do thiêu màu cục bộ canh khớp.

Triệu chứng làm sàng: tòn thương thuơng gặp là các khơp chi dưới khớp gối. chàn hai bèn), có thè có tràn dịch khớp. Viêm một vài khơp co đặc điểm là

269

không có hình bào mòn trên Xquang (nonerosive oligoarthritis), tức là thường không có hiện tượng hủy khớp, do đó không gây biến dạng khởp. Triệu chứng kéo dài trong vòng vài tuần, nói chung không quá 6 tuần. Mặc dù biểu hiện viêm một vài khốp có đặc điểm tương tự như viêm khớp phản ứng, song không có các triệu chứng ngoài khớp kèm theo (không có viêm kết mạc, viêm niệu đạo)...

-Viêm khớp phản ứng

Nhóm bệnh lý này gồm hội chứng Reiter, thấp khốp vẩy nến, viêm ruột do thấp, viêm cổ tử cung và niệu đạo... Có khoảng 0,5 - 3% bệnh nhân nhiễm Hrv xuất hiện hội chứng Reiter.

Biểu hiện của hội chứng này có thể xuất hiện trước chẩn đoán AIDS khoảng 2 năm, đồng thòi hoặc thường gặp nhất là biểu hiện trong thòi kỳ suy giảm miễn dịch. Bệnh biểu hiện giống như các bệnh nói trên ở người không nhiễm HIV: sưng đau vài các khởp chi dưới, không đối xứng, viêm niệu đạo. Tuy nhiên, hiếm khi gặp viêm kết mạc. Các triệu chứng viêm điểm bám tận, viêm các cân gan chân, ngón chi hình khúc dồi, viêm miệng, tổn thương tại da và móng rất thường gặp. Viêm cổ tử cung cũng có thể gặp.

Tổn thương cột sống hiếm gặp. Các khớp có biểu hiện viêm màng hoạt dịch vô khuẩn. Không tìm thấy vi khuẩn trong dịch khớp. Biểu hiện lâm sàng điển hình là viêm vài khớp, mức độ nhẹ, thoáng qua và không để lại di chứng. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp viêm khớp có hình bào mòn trên Xquang (có hủy khớp trên lâm sàng) với biểu hiện rất trầm trọng.

Tỷ lệ HLA B27 dương tính cũng tương tự như ở người không nhiễm HIV.

-Điêu trị: điêu trị viêm khốp phản ứng có một sô’ điểm khác với điểu trị viêm khởp phản ứng ở người không nhiễm HIV. Các thuốc chông viêm không steroid, Sulfasalazin, Muối vàng, Kháng sinh nhóm cyclin... vẫn được chỉ định như đối với người không nhiễm HIV. Trong khi đó, các thuốc ức chê miễn dịch (Methotrexate, azathioprine) không được chỉ định ở các đô'i tượng này. Phác đồ tốì ưu là các thuốc điều trị HIV kết hợp với thuốc kháng TNF-alpha antagonists (ví dụ Infliximab).

-Hội chứng giống lupus

ơ nhóm bệnh nhân nhiễm HIV thường xuất hiện các kháng thể kháng nhân. Ngoài ra, có thể có một sô’ triệu chứng ở da, khớp, thần kinh trung ương và nội tạng. Đa sô’ các bệnh nhân nhiễm HIV thường có kháng thể kháng nhân song tỷ giá thâ'p, và hiêm khi có mặt loại kháng thể kháng ds -DNA. Nói chung, khó có thê phân biệt vê lâm sàng và xét nghiệm, đặc biệt nếu hội chứng này xuất hiện ở nam thanh niên.

-Viêm khớp do vi khuẩn

Trên thực tế, tỷ lệ viêm xương khớp nhiễm khuẩn ở các đối tượng này không

270

cao. Một sõ nghiên cứu năm 1997 trên 4.023 trường hợp nhiễm HIV các nước thuộc bán đảo Scandinavi, chì phát hiện có 14 trường hợp mẩc cõt tủy viêm do tứ khuân. Tuy nhiên. các tác giả đã thày có một mõì liên quan không rõ ràng giữa những trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn các đôì tượng này với sô lượng tê bão CD4. Thường gặp tổn thương tại các khớp lớn ỏ chi dưới và khớp ức—đôn.

-Nhiễm Hrv kết hợp I đi bệnh gút

Hiện tượng tàng acid uric gập khoảng 0.5°u bệnh nhàn nhiễm HIV.

-Nhiễm Hĩ\' kết hợp viêm đa cơ (poỉymvositis).

-Viêm mạch kết hợp ờ bệnh nhân nhiễm HIV.

Thường gặp các bệnh nhân nhiễm HIV giai đoạn sớm tỷ lệ CD4 cao hoặc giai đoạn muộn khí bệnh nhân bị suy giâm miền dịch nặng.

Sình thiết: có hiện tượng viêm mạch xâm nhiễm bạch cầu đơn nhàn trung tính không đặc hiệu.

Bệnh cành lâm sàng: ban hoặc tổn thương thần kinh ngoại biên hoặc cà hai. Mệt vài bệnh nhân kháng thè lanh huyết thanh (cryoglobulinemia), viêm nút quanh động mạch hoặc các biên chứng mạch máu lớn trầm trong như đột quy.

Chương 4

CÁC BỆNH VẾ XlfflNG

-------

LOÃNG XƯƠNG NGUYÊN PHÁT

I. ĐẠI CƯƠNG

Từ nủa đầu thế kỷ XVIII, nhà giải phẫu học J. Martin Lostein đã đê' cập đến khái niệm vê' bệnh loãng xương. Năm 1930 - 1940, Albright là người đầu tiên đưa ra khái niệm loãng xương là sự calci hoá không đầy đủ khung xương. Sau đó nhờ sự tiến bộ trong kỹ thuật thăm dò hình thái và tổ chức học của xương, các công trình nghiên cứu của Bordier và Meunier đưa ra định nghĩa: loãng xương là sự giảm toàn bộ khối lượng xương. Sau đó, định nghĩa loãng xương chính thức được Tổ chức Y tẽ Thê giới (WHO) thông nhất năm 1993 và sửa đổi năm 2001. Các khái niệm về loãng xương ban đầu chỉ nêu các loãng xương liên quan tới tình trạng mãn kinh ở phụ nữ, sau đó các nguyên nhân gây loãng xương sinh lý và bệnh lý, các yếu tố nguy đã được nghiên cứu. Các thuốc điều trị loãng xương ngày các được ứng dụng trên lâm sàng và đem lại nhiều kết quả khả quan.

II. ĐỊNH NGHĨA - cơ CHẾ BỆNH SINH VÀ CÁC YẾU Tố NGUY cơ LOÃNG XƯƠNG

1. Định nghĩa loãng xương

-Định nghĩa của WHO (World Health Organization) - 1993

Loãng xương là một bệnh lý của xương, được đặc trưng bởi sự giảm khối lượng xương kèm theo hư biến cấu trúc của xương, dẫn đến tăng tính dễ gãy của xương, tức là có nguy cơ gãy xương. Do vậy, cần đo mật độ xương để đánh giá nguy cơ gãy xương.

-Định nghĩa của WHO-2001

Loãng xương được đặc trưng bởi sự thay đổi sức mạnh của xương. Sức mạnh này được đặc trưng bởi mật độ xương và chất lượng của xương. Chất lượng xương được đánh giá bởi các thông số: cấu trúc của xương, chu chuyển xương (turnover rate), độ khoáng hoá, tổn thương tích luỹ (damage accumulation), tính chất của các chất cơ bản của xương. Trong các thông số này, chu chuyên xương đóng một vai trò quan trọng. Chúng ta đều biết, quá trình huỷ và tạo xương luôn liên tục

Соседние файлы в папке новая папка